“Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”.
Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20 tháng 9 năm 1951. Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước.
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308/ Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương.
“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”.
Nguyễn Ái Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác.
“Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17 tháng 9 năm 1945, viết tại Hà Nội, Người lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình.
“Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên”.
Trung tuần tháng 9 năm 1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường phục vụ chiến dịch, Người đã làm bài thơ này tặng thanh niên. Qua bốn câu thơ, Bác muốn nhắn nhủ với thanh niên phải chú trọng đến việc bồi dưỡng về chí khí cách mạng.
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15 tháng 9 năm 1945. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do.
“Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14 tháng 9 năm 1959. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ.
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến dự và phát biểu tại “Lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc”, ngày 13 tháng 9 năm 1958. Sự kế tục giữa các thế hệ nối tiếp nhau vốn là quy luật tồn tại, phát triển của mọi xã hội. Trong bất cứ một quốc gia, dân tộc nào tuổi trẻ đều là lực lượng lãnh đạo kế cận, là tương lai của đất nước.
“Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12 tháng 9 năm 1947. Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến.
“Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”.
Đây là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11 tháng 9 năm 1950. Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội.